Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời

Theo Vietnamnet nhạc sĩ Phạm Duy đã qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh vào hồi 14h30, ngày 27/01/2013, hưởng thọ 93 tuổi.

NHAC SY PHAM DUY VUA MOI QUA DOI O TUOI 93
14h30 chiều 27/1, nhạc sĩ Phạm Duy mất tại bệnh viện 115, TP HCM sau 3 ngày nhập viện cấp cứu. Hiện người nhà ông đang làm thủ tục để chuyển thi hài người nhạc sĩ tài hoa về nhà lo an táng. Chăm sóc ông những ngày cuối đời có con trai Duy Cường luôn túc trực cùng với một vài người thân. Phút lâm chung, ông cũng ra đi trong vòng tay người thân, gia đình và bạn bè.
Ở tuổi 93, nhạc sĩ Phạm Duy ra đi, để lại di sản sáng tác đồ sộ cùng tình yêu trọn đời dành cho âm nhạc.
Nhạc sĩ nổi danh qua đời chỉ hơn một tháng sau khi con trai cả Duy Quang của ông mất ở tuổi 62. Trước đó người nhà giấu tin Duy Quang mất vì sợ Phạm Duy buồn và ảnh hưởng đến sức khỏe vốn đã rất yếu của ông. Nhưng khi biết tin, Phạm Duy không quá đau buồn. Ông tâm sự với nữ danh ca Ánh Tuyết, ông biết con trai bệnh và sẽ không qua khỏi nên đã chuẩn bị sẵn tâm thế để đón nhận. Nhạc sĩ Phạm Duy cảm thấy được an ủi hơn khi con trai mất trong tình cảm yêu thương của khán giả, bạn bè và người thân.
Phạm Duy (sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội). tên thật Phạm Duy Cẩn. Ông xuất thân từ một gia đình văn nghiệp với người cha là  Phạm Duy Tốn - thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới hồi đầu thế kỷ 20.

Là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà nghiên cứu nhạc của Việt Nam, Phạm Duy được coi là một trong những nhạc sĩ lớn của nền Tân nhạc với số lượng sáng tác đồ sộ và đa dạng về thể loại, trong đó có những bài đã trở nên rất quen thuộc với người Việt. Ngoài sáng tác, Phạm Duy còn có nhiều công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị.

Gia đình Phạm Duy có nhiều người nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật, như: cha Phạm Duy Tốn (nhà văn), anh trai Phạm Duy Khiêm (một học giả và là một nhà văn viết tiếng Pháp), vợ là ca sĩ  Thái Hằng, các con: ca sĩ Thái Hiền, ca sĩ Duy Quang (đã mất), ca sĩ Thái Thảo, nhạc sĩ hòa âm Duy Cường....
Thật buồn khi nghe tin ông mất. Nhưng đó là lẽ vô thường. Chúc nhạc sĩ an giấc nghìn thu.
Thưởng thức những bài hát của Nhạc sỷ Phạm Duy: http://danluat.thuvienphapluat.vn/nhac-si-pham-duy-qua-doi-o-tuoi-93-85977.aspx

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

Tòa xử công khai nhưng... kín!

Tòa xử công khai nhưng... kín!

Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Luật hành chính đều có điều khoản quy định các phiên tòa được xét xử công khai, mọi công dân đều có quyền tham dự phiên tòa. Thế nhưng thực tế có những phiên tòa đóng kín cửa không lý do.

Tại sao cổng tòa còn đóng cửa với dân trong một phiên xử công khai? Liệu có vi phạm pháp luật Việt Nam?

Xin giới thiệu bài viết của Luật sư Ngô Ngọc Trai, Trưởng văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự.
Hình ảnh thường thấy hằng ngày ở cổng TAND TP Hà Nội: người dân chờ đợi, năn nỉ bảo vệ cho vào tòa - Ảnh: Tâm Lụa
Hình ảnh thường thấy hằng ngày ở cổng TAND TP Hà Nội: người dân chờ đợi, năn nỉ bảo vệ cho vào tòa - Ảnh: Tâm Lụa
Kính gửi anh chị em dân luật,
Liên quan đến tình trạng người dân bị ngăn trở vào tham dự các phiên tòa công khai, là một luật sư thấu nhận nhiều nỗi gian truân cơ cực của người thân bị cáo muốn vào nhìn mặt con em mình mà không được, tôi tiếp tục có ý kiến như sau, xin được chia sẻ cùng mọi người và hãy cùng quan tâm.
Ngày 11/1/2013 tôi có tham dự phiên tòa xét xử tại TAND tối cao 48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Lực lượng bảo vệ tại cổng tòa án đã ngăn cản không cho người thân của bị cáo vào tham dự phiên tòa công khai, tôi đã rất vất vả đấu tranh họ mới để cho vào. Như vậy là sai phạm đã diễn ra ngay tại trụ sở TAND tối cao.
Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 18 quy định: Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.
Căn cứ điều luật trên mọi người dân đều được quyền tham dự phiên tòa. Một người đi đường tránh mưa cũng có quyền tạt vào xem tòa hôm nay xử gì. Những hành vi ngăn cản người dân vào hội trường lắng nghe tòa xử án đều vi phạm pháp luật.
Cũng theo Điều 18, tòa án chỉ tiến hành xử kín trong một số trường hợp cá biệt, việc xử kín được nêu tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định được gửi cho bị cáo và luật sư bào chữa để biết tham dự.
Hầu hết các vụ án đều là xét xử công khai nên người dân đều được quyền qua cổng tòa án vào hội trường xét xử. Lực lượng bảo vệ không được nêu lý do tòa xử kín không cho vào vì chính họ cũng không được biết vụ án nào xử kín (vì họ không phải là người được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử). Trường hợp tòa xử kín, chủ tọa phiên tòa sẽ thông báo và mời những người không được tham dự ra ngoài.
Xem xét kỹ vấn đề tại sao cổng tòa còn đóng cửa với dân thì thấy rằng:
Hiến pháp năm 1992 Điều 8 quy định: Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.
Luật tổ chức tòa án nhân dân Điều 38 quy định: Thẩm phán, Hội thẩm phải tôn trọng nhân dân và chịu sự  giám sát của nhân dân.
Việc người dân tham dự phiên tòa chính là giám sát cán bộ tòa án tuân thủ, thực thi pháp luật. Đây cũng là một phương thức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật sinh động quan trọng. Phải chăng vì sợ bị giám sát nên ngăn trở dân?
Lực lượng công an tư pháp và cán bộ tòa án viện cớ này nọ ngáng trở người dân vào hội trường tham dự phiên tòa là vi phạm pháp luật. Phải để nhân dân vào tòa để nhân dân đấu tranh chống quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.
Trách nhiệm thuộc về người đứng đầu tòa là chánh án
Luật tổ chức tòa án nhân dân quy định trách nhiệm tổ chức công tác xét xử thuộc về Chánh án tòa án, nhưng hiện nay không có chế tài xử lý Chánh án khi để xảy ra tình trạng người dân bị ngăn cản vào tham dự phiên tòa.
Tuy nhiên vẫn có hình thức xử lý gián tiếp như sau: Khi tòa án để xảy ra tình trạng người dân bị cấm cản tham dự phiên tòa, chánh án tòa án đã không làm tròn trách nhiệm tổ chức công tác xét xử, do vậy không xứng đáng để tiếp tục được làm chánh án hoặc bổ nhiệm lại làm chánh án. Nếu sai phạm xảy ra tại TAND các địa phương, người dân cần gửi đơn phản ánh tới Chánh án TAND tối cao là người có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh án TAND các địa phương.
Đối với sai phạm diễn ra tại TAND tối cao thì cần gửi đơn phản ánh tới Quốc Hội (là cơ quan có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chức danh Chánh án TAND tối cao) và Chủ tịch nước (là cơ quan có quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án TAND tối cao)
Hy vọng tương lai sẽ có những chuyển biến
Do nhận thức được sự lạc hậu của Việt Nam trong mảng vấn đề tư pháp xét xử nên năm 2011 Bộ chính trị đã ban hành quyết định 39-QĐ/TW thành lập Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, trọng tâm trong đó là công tác xét xử.
Theo tôi, Ban chỉ đạo cần lắng nghe hơn nữa tiếng nói phản ánh của giới luật sư về vấn đề cải cách tư pháp. Luật sư là người hàng ngày vận dụng các quy định pháp luật và thấy được sự bất cập của các quy định. Luật sư thường xuyên lắng nghe giải quyết các vấn đề của khách hàng nên thấy được những nhu cầu bức xúc của nhân dân. Những vấn đề của luật sư phản ánh là rất có cơ sở chính xác, đáng được lắng nghe quan tâm. 
Chúng ta hiểu rằng nền tư pháp của nước ta còn rất nhiều khiếm khuyết, nhưng mọi thứ không tự dưng tốt lên được nếu mọi người không chung vai góp sức dựng xây.
Luật sư Ngô Ngọc Trai
Trưởng văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự
Luật sư Trai trực tiếp đăng tại DanLuat: http://danluat.thuvienphapluat.vn/nguoi-than-bi-cao-muon-vao-toa-nhin-mat-con-em-minh-ma-khong-duoc-85240.aspx

Công văn 187/TCT-TNCN hướng dẫn quyết toán thuế TNCN năm 2012

TỔNG CỤC THUẾ vừa ban hành Công văn 187/TCT-TNCN ngày 15 tháng 1 năm 2013 về việc hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2012.

CONG VAN 187 - QUYET TOAN THUE TNCN 2012
Xin trích một phần nội dung quan trọng của Công văn 187:
III. Xác định thu nhập chịu thuế
1. Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
1.1. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản thu nhập khác theo hướng dẫn tại Khoản 2, Mục II, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC; Điều 1 Thông tư số 62/2009/TT-BTC; Điều 1 Thông tư số 02/2010/TT-BTC mà người nộp thuế nhận được trong năm 2012.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công cho cá nhân.
Ví dụ 3. Trường hợp tiền lương, tiền công phát sinh trước tháng 12/2012, tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế vào tháng 1/2013 thì tính vào thu nhập chịu thuế của năm 2013 để quyết toán thuế trong năm 2013
1.2. Trường hợp cá nhân nhận thu nhập sau thuế (thu nhập NET) thì việc xác định thu nhập chịu thuế thực hiện theo hướng dẫn tại công văn số 1578/TCT-TNCN ngày 28/4/2009 và công văn số 3565/TCT-TNCN ngày 14/9/2010 của Tổng cục Thuế
2. Đối với thu nhập chuyển nhượng chứng khoán
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng chứng khoán là tổng thu nhập chịu thuế của các mã chứng khoán chuyển nhượng trong năm.
Thu nhập chịu thuế từng mã chứng khoán được xác định bằng giá bán chứng khoán trừ giá mua và các chi phí liên quan đến chuyển nhượng.
Giá mua của từng mã chứng khoán được xác định như sau:
Giá mua của chứng khoán bán ra
=
Giá vốn đầu kỳ + giá vốn trong kỳ
x Số lượng bán ra
Số lượng chứng khoán tồn đầu kỳ
+
Số lượng mua trong kỳ
Giá vốn trong kỳ = Giá mua + Chi phí mua
IV. Giảm trừ gia cảnh
Về đối tượng giảm trừ gia cảnh và các khoản được giảm trừ để xác định thu nhập tính thuế được thực hiện theo hướng dẫn tại Mục I, Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC; Điều 2, Điều 3 Thông tư số 62/2009/TT-BTC Điều 4 Thông tư số 02/2010/TT-BTC.
1. Cá nhân được giảm trừ cho người phụ thuộc từ tháng có nghĩa vụ nuôi dưỡng và đã đăng ký giảm trừ gia cảnh. Đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam được tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc từ tháng 1 đến tháng rời khỏi Việt Nam.
Trường hợp cá nhân trong năm có phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng mà đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc muộn hoặc đến khi quyết toán thuế mới đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc thì khi khấu trừ thuế hàng tháng được tính giảm trừ gia cảnh từ tháng đăng ký giảm trừ; khi quyết toán thuế được tính giảm trừ cho người phụ thuộc từ tháng có nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Ví dụ 4.
- Ông A phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng 1 người con vào tháng 1/2012 nhưng đến tháng 3/2012 ông A mới đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc thì từ tháng 3/2012 hàng tháng ông A được tính giảm trừ cho người phụ thuộc khi tạm khấu trừ thuế. Cuối năm khi quyết toán thuế, ông A được tính giảm trừ cho người phụ thuộc từ tháng 1/2012.
- Ông A phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng 1 người con vào tháng 1/2012 nhưng không đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc thì hàng tháng ông A không được tính giảm trừ cho người phụ thuộc khi tạm khấu trừ thuế. Cuối năm khi quyết toán thuế, ông A đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc từ tháng 1/2012.
2. Đối với trường hợp cá nhân chuyển nơi làm việc thì khi nộp đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc cho đơn vị làm việc mới, cá nhân nộp cho đơn vị làm việc mới bản chụp (photo) hồ sơ chứng minh người phụ thuộc có xác nhận của đơn vị làm việc trước đó.
V. Xác định số thuế phải nộp
1. Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh
Số thuế phải nộp cả năm
=
Thu nhập tính thuế bình quân tháng
x
Thuế suất theo biểu thuế luỹ tiến từng phần tháng
x
12 tháng
2. Đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh bình quân tháng đến mức phải chịu thuế Thu nhập cá nhân ở bậc 1 của Biểu thuế luỹ tiến từng phần (nhỏ hơn hoặc bằng 5 triệu đồng/tháng) thì được miễn thuế 6 tháng cuối năm 2012.
Số thuế được miễn
=
Thuế phải nộp năm 2012 x 6 tháng
12 tháng
Cá nhân kê khai số thuế Thu nhập cá nhân sau khi đã trừ số thuế được miễn vào chỉ tiêu số [32] (Số thuế phát sinh trong kỳ) của Tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân mẫu số 09/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC.
Ví dụ 5: Ông A có thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công năm 2012 là 166,2 triệu đồng.
Năm 2012 ông A có các khoản giảm trừ như sau:
- Giảm trừ cho bản thân 48 triệu đồng (4 triệu đồng x 12 tháng)
- Giảm trừ cho một người phụ thuộc 19,2 triệu đồng (1,6 triệu đồng x 12 tháng)
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 3 triệu đồng.
Thu nhập tính thuế của ông A trong năm 2012 là: 166,2 triệu đồng – ( 48 triệu đồng + 19,2 triệu đồng + 3 triệu đồng ) = 96 triệu đồng.
Thu nhập tính thuế bình quân tháng = 96 triệu đồng : 12 tháng = 8 triệu đồng/tháng
Thuế bình quân 1 tháng phải nộp = (5 triệu đồng x 5%) + (3 triệu đồng x 10%) = 0,55 triệu đồng
Thuế cả năm = 0,55 triệu đồng x 12 tháng = 6,6 triệu đồng
Ví dụ 6: Thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công của ông B trong năm 2012 là 36 triệu đồng.
- Thu nhập tính thuế bình quân tháng của ông B là: 36 triệu đồng : 12 tháng = 3 triệu đồng.
- Số thuế TNCN phải nộp = (3 triệu đồng x 5%) x 12 tháng = 1,8 triệu đồng
- Thuế TNCN được miễn
=
1,8 triệu đồng
x
6 tháng
=
0,9 triệu đồng
12 tháng
- Thuế TNCN phải nộp sau khi trừ tiền thuế được miễn = 1,8 triệu đồng - 0,9 triệu đồng = 0,9 triệu đồng.
3. Đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
- Số thuế TNCN phải nộp cả năm
=
Thu nhập tính thuế
x
20%
- Số thuế TNCN được giảm
=
Thuế TNCN phải nộp cả năm
x
50%
- Số thuế TNCN còn phải nộp hoặc nộp thừa sau khi giảm
=
Số thuế TNCN phải nộp cả năm
-
Số thuế TNCN được giảm
-
Thuế TNCN đã khấu trừ
Cá nhân kê khai số thuế Thu nhập cá nhân sau khi đã trừ số thuế được giảm vào chỉ tiêu số [26] (Số thuế phải nộp trong kỳ) của Tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân mẫu số 13/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC.
VI. Thủ tục khai quyết toán thuế TNCN
 ... và rất nhiều nội dung quan trọng khác.
Xem toàn văn Công văn 187/TCT TNCN tại đây: Công văn 187 file .doc

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Phần mềm HTKK 3.1.5 phiên bản mới nhất

HTKK 3.1.5 - Phần mềm hổ trợ kê khai thuế phiên bản 3.1.5 mới nhất


TỔNG CỤC THUẾ THÔNG BÁO vừa Nâng cấp Phần mềm hổ trợ kê khai thuế phiên bản 3.1.5 mới nhất ngày 15/01/2013 đáp ứng nghiệp vụ quyết toán thuế TNCN, TNDN năm 2012.

Phần mềm phiên bản HTKK 3.1.5 nâng cấp các tính năng chính sau:
- Nâng cấp chức năng kê khai tờ khai 05/KK-TNCN: Ứng dụng hỗ trợ tổng hợp số thuế TNCN được miễn theo Thông tư số 140/TT-BTC tại phụ lục 27/MT-TNCN nộp kèm tờ khai 05/KK-TNCN từ số liệu kê khai trên bảng kê 05A/BK-TNCN.

- Nâng cấp chức năng kê khai tờ khai 09/KK-TNCN: Ứng dụng hỗ trợ tổng hợp số thuế TNCN được miễn theo Thông tư số 140/TT-BTC tại phụ lục 26/MT-TNCN nộp kèm tờ khai 09/KK-TNCN từ số liệu kê khai trên tờ khai 09/KK-TNCN.

- Riêng đối với ứng dụng HTKK, iHTKK:

 + Bổ sung thêm mẫu biểu phụ lục Thông báo lựa chọn phương án hưởng ưu đãi thuế theo quy định tại Thông tư số 199/2012/TT-BTC mẫu 01/TNDN nộp kèm tờ khai quyết toán thuế TNDN mẫu 03/TNDN.

 + Nâng cấp chức năng kê khai tờ khai thuế TNDN từ chuyển nhượng bất động sản mẫu 02/TNDN: Thay đổi tỷ lệ nộp thuế TNDN trên doanh thu theo tiến độ thu tiền từ 2% xuống 1% theo Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012.

- Đối với việc gửi/nhận tờ khai quyết toán thuế TNCN qua trang http://tncnonline.com.vn: Hỗ trợ gửi/nhận dữ liệu tờ khai quyết toán thuế TNCN với cả 2 định dạng excel 2003 và 2007. Tổng cục Thuế sẽ tạm dừng hệ thống website http://tncnonline.com.vn trong khoảng thời gian từ 16h đến 18h ngày 15/1/2013 để tiến hành nâng cấp.

Bắt đầu từ ngày 16/1/2013, khi kê khai tờ khai thuế có áp dụng công nghệ mã vạch 2 chiều, tổ chức cá nhân nộp thuế sẽ sử dụng các mẫu biểu kê khai tại ứng dụng HTKK 3.1.5, phần mềm QTTNCN 3.0.2 và ứng dụng iHTKK 2.2.9 thay cho các phiên bản trước đây.

Tổng hợp Thông tin chính thức từ TỔNG CỤC THUẾ.

Download phần mềm HTKK 3.1.4 tại đây: HTKK 3.1.5 - Phần mềm hổ trợ kê khai thuế phiên bản 3.1.5 mới nhất

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Bảng giá điện tăng 5% từ ngày 22/12/2012

Theo thông tin mới nhất từ  Tập đoàn Điện lực Việt Nam, giá điện sẽ tăng từ ngày mai 22/12, cụ thể như sau:
Giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thangGiá hiện tạiGiá mớiMức tăng
Từ 0 đến 100 kWh 1.284 1.350 66
Từ 101 đến 150 kWh 1.457 1.545 88
Từ 151 đến 200 kWh 1.843 1.947 104
Từ 201 đến 300 kWh 1.997 2.105 108
Từ 301 đến 400 kWh 2.137 2.249 112
Từ 401 kWh trở lên 2.192 2.307 115
Theo: Giá điện tăng 5% từ ngày mai 22/12/2012

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

Cước phí đường bộ của ôtô, môtô-xe máy năm 2013

Phí sử dụng đường bộ - Khi nào sẽ thu?

Theo quy định tại Thông tư 197/2012/TT-BTC về việc thu và sử dụng phí đường bộ, thì lộ trình đóng phí của người sử dụng phương tiện giao thông sẽ được áp dụng như sau:
1. Đối với xe ôtô:
a. Đối với xe có thời hạn đăng kiểm 1 năm trở xuống bắt đầu từ năm 2013 thì sẽ phải đóng phí cho cả kỳ đăng kiểm theo tháng như 12 tháng, 6 tháng...
b. Đối với xe có thời hạn đăng kiểm trên 1 năm thì sẽ phải thực hiện việc đóng phí theo năm hoặc cho cả chu ký đăng kiểm. Nếu quyết định chọn đóng phí theo năm thì khi hết 1 năm hoặc 2 năm mà thời hạn trong đăng kiểm vẫn còn thì chủ phương tiện phải đóng phí cho thời gian còn lại trong hạn đăng kiểm.
c. Trường hợp xe đăng kiểm sớm hoặc trễ hơn quy định thì cơ quan quản lý sẽ thực hiện việc ghi tem nộp phí từ ngày mà họ đăng kiểm, ngoài ra họ sẽ phái đóng thêm phí cho khoản thời gian chưa đóng phí vì đăng kiểm trễ hoặc giảm phí  vì đăng kiểm sớm.
d. Đối với trường hợp đăng kiểm sớm trước 1/1/2013, trường hợp này các xe vẫn chưa phải nộp phí. Việc tính phí sẽ áp dụng khi:
- Trường hợp có kỳ đăng kiểm tiếp theo phát sinh trong năm 2013 thì chủ phương tiện phải đến đăng kiểm nộp phí cho cả thời gian tính từ ngày 01/01/2013 đến thời điểm bắt đầu kỳ đăng kiểm phát sinh trong năm 2013.
- Trường hợp không có kỳ đăng kiểm nào phát sinh trong năm 2013 thì chậm nhất là ngày 30/6/2012, chủ phương tiện phải đến cơ quan đăng kiểm nộp phí cho thời gian tính từ ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2013 hoặc đến hết kỳ đăng kiểm đó.
e. Trường hợp chủ phương tiện chưa nộp phí sử dụng đường bộ của chu kỳ đăng kiểm trước theo thời hạn quy định, thì ngoài số phí phải nộp cho chu kỳ tiếp theo, chủ phương tiện còn phải nộp số phí chưa nộp của chu kỳ trước.
Cơ quan thu phí phải lập và cấp Biên lai thu phí cho người nộp phí theo quy định và cấp tem sử dụng theo chu kỳ đóng phí của chủ phương tiện.
- Người nộp phí phải khai theo Mẫu số 01/TKNP tại Phụ lục số 03 ban hành kèm theo Thông tư 197 này và nộp phí cho cơ quan đăng kiểm.
- Đối với xe ô tô nước ngoài tạm nhập lưu hành tại Việt Nam phải khai theo Mẫu số 01/TKNP tại Phụ lục số 03 ban hành kèm theo Thông tư 197 và nộp phí cho Sở Giao thông vận tải theo từng lần phát sinh.
2. Đối với xe môtô-xe máy:
a.Nếu sở hữu xe  trước ngày 01/01/2013 thì tháng 01/2013 thực hiện khai, nộp phí cả năm 2013, mức thu phí 12 tháng.
b.  Nếu sở hữu xe từ ngày 01/01/2013 trở đi thì việc khai, nộp phí thực hiện như sau:
- Thời điểm phát sinh từ ngày 01/01 đến 30/6 hàng năm, chủ phương tiện phải nộp phí với mức thu bằng 1/2 mức thu năm. Thời điểm khai nộp chậm nhất là ngày 31/7.
- Thời điểm phát sinh từ 01/7 đến 31/12 hàng năm, thì chủ phương tiện thực hiện nộp phí vào tháng 1 năm sau (chậm nhất ngày 31/1) và không phải nộp đối với thời gian còn lại của năm phát sinh.
c. Người sở hữu xe môtô có trách nhiệm nộp phí tại UBND cấp xã.
Theo quy định này thì chủ xe môtô phát sinh từ ngày 1/7/2013 sẽ không phải nộp phí cho khoản thời gian sử dụng xe trong năm 2013...

Theo nguồn:Phí sử dụng đường bộ - Khi nào sẽ thu?

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

Thông tư 29/2012 hướng dẫn Nghị định 103/2012 về lương tối thiểu 2013


Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội vừa ra Thông tư 29/2012/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 103/2012 về lương tối thiểu vùng 2013.

Thông tư 29/2012/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã,tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.
Download - tải toàn văn thông tư 29/2012 tại đây:

Thông tư 29/2012/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 103/2012 về lương tối thiểu vùng 2013

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Luật Thuế thu nhập cá nhân 2012 sửa đổi bổ sung

Quốc hội vừa ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân số  26/2012/QH13 ngày 03 tháng 12 năm 2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12.

Theo đó:
  • Tiền lương hưu do Quỹ BHXH chi trả ; Tiền lương hưu do quỹ hưu trí tự nguyện chi trả hàng tháng;
  • Giảm trừ gia cảnh: mức giảm trừ đối với đối tượng 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm); mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng;
  • Một cá nhân không có người phụ thuộc, thu nhập trên 9 triệu đồng/tháng mới phải nộp thuế.
  • Nếu có 1 người phụ thuộc thì thu nhập trên 12,6 triệu đồng và 2 người phụ thuộc trên 16,2 triệu đồng/tháng mới phải nộp thuế.
  • ....còn tiếp
Luật Thuế TNCN 2012 có hiệu lực từ ngày 01/07/2013

Download - tải toàn văn Luật Thuế TNCN 2012:Luật Thuế thu nhập cá nhân 2012 sửa đổi bổ sung - Luật số 26/2012/QH13

hoặc Luật Thuế TNCN

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Nghị định 103/2012 - lương tối thiểu vùng năm 2013

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 103/2012/NĐ-CP ngày 04 tháng 12 năm 2012 về lương tối thiểu vùng năm 2013: Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.

Theo đó, từ 01/01/2013 mức lương tối thiểu vùng sẽ tăng lên như sau:


  • Mức 2.350.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động tại vùng I

  • Mức 2.100.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động tại vùng II

  • Mức 1.800.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động tại vùng III

  • Mức 1.650.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động tại vùng IV

Download- xem toàn văn nghị định 103 tại: Nghị định 103/2012/NĐ-CP về lương tối thiểu vùng năm 2013

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Phạt, phạt nữa, phạt mãi ... để làm gì, thưa Chính phủ?

Phạt, phạt nữa, phạt mãi ... để làm gì, thưa Chính phủ?
Mấy ngày nay người dân "ồn ào" thậm chí bức xúc với quy định tăng mức xử phạt tiền đối với người vi phạm quy định về đăng ký quyền sở hữu đối với phương tiện giao thông cá nhân theo quy định tại Điều 33 Nghị định 34/2010/NĐ-CP.
Theo đó, theo Nghị định số 71/2012/NĐ-CP thì mức phạt tiền đối với trường hợp không chuyển quyền sở hữu phương tiện xe mô tô, xe gắn máy; các loại xe tương tự mô tô từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng; đối với xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô là từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Theo khoản 2 Điều 439 Bộ luật Dân sự thì “Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó”. Đồng thời, theo 36/2010/TT-BCA thì “trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho, tặng, thừa kế xe, người mua hoặc nhận xe phải đến cơ quan đăng ký xe đang quản lý xe đó làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe.”
Như vậy, quy định phải đăng ký xe là cần thiết, pháp luật cần quy định việc đăng ký để xác lập quyền sở hữu, đảm bảo quản lý các phương tiện giao thông, có cơ sở để xác định chủ sở hữu của phương tiện tham gia giao thông trong các trường hợp rủi ro, gây tai nạn ... để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan ...
Tuy nhiên, sự phản ứng mạnh mẽ của người dân đối với số tiền phạt được đẩy lên rất cao đối với việc vi phạm vấn đề đăng ký quyền sở hữu xe là có cơ sở, bởi lẽ quy định xử phạt này từ Nghị định 34/2010/NĐ-CP đến nay là Nghị định số 71/2012/NĐ-CP nâng số tiền phạt lên thì đều chỉ là việc cố gắng đuổi theo một nếp sống, một thực tiễn đang diễn ra trong xã hội nhưng khó lòng theo kịp.
Từ câu chuyện nâng số tiền phạt lên hòng siết chặt công tác quản lý việc đăng ký xe nói riêng trong vấn đề quản lý giao thông sẽ đặt ra những giả thiết của người dân về sự không khả thi của pháp luật. Như việc, cho dù đã có sự chuyển nhượng, tặng cho ... tài sản là các phương tiện nói trên thì khi kiểm tra, xử lý người dân có thể lách luật để chứng minh rằng mình mượn xe của người thân, bạn bè đi thì xử lý thế nào?
Còn nếu cứ gọi lại người đi đường để kiểm tra xem có chính chủ hay không để tìm cách xử phạt, thu tiền thì chắc chắn sẽ dẫn đến một vướng mắc liên quan đến thời gian, sự phiền phức cho người dân và cho cả những người thi hành nhiệm vụ tìm người để phạt. Những mâu thuẫn đó dấy lên sự không an tâm của người dân về khả năng áp dụng vào thực tế của các quy định xử lý hành chính đối với sai phạm.
Tất nhiên, người dân cũng cần hiểu là Chính phủ ban hành các quy định nói trên để xử lý các trường hợp đã chuyển nhượng phương tiện mà không đăng ký quyền sở hữu theo quy định, chứ không thể nào được phép phạt người dân sử dụng xe không thuộc quyền sở hữu của mình.
Mọi hành vi lạm dụng quy định để bắt xe, kiểm tra sự chính chủ hay không của người điều khiển phương tiện giao thông sẽ là hoạt động cản trở giao thông ngược trở lại từ phía chính quyền. Lạm dụng chuyện chính chủ hay không chính chủ của người điều khiển phương tiện là cách sớm nhất và hiệu quả nhất để cấm cản khả năng ra khỏi nhà, hòa vào dòng chảy không ngừng nghỉ của người dân trong một xã hội mà phương tiện giao thông cá nhân là chủ yếu và phổ biến.
Ngoài ra, Nghị định71/2012/NĐ-CP được ban hành chỉ cho thấy những điểm mới chủ đạo chỉ là ở mức tiền phạt tiền được tăng lên gấp nhiều lần so với mức phạt cũ. Đánh vào túi tiền của người dân, từ chuyện thu phí vận hành đến chuyện xử lý hành chính các trường hợp vi phạm đang cho thấy khả năng Chính phủ đang đổ lên đầu người dân trách nhiệm cho mọi sự rối rắm của câu chuyện giao thông hiện nay.
Dòng chảy tiền từ túi dân sẽ cuồn cuộn hơn chảy vào ngân sách Chính phủ nếu mức phạt được tăng lên, thế nhưng số tiền này lại được đầu tư thiếu hiệu quả, bị cắt xén bởi hiện trạng tham nhũng nhiều, bị uổng phí bởi việc quy hoạch ngớ ngẩn và hiện trạng giao thông tồi tệ của nước nhà càng tồi tệ hơn ... Đó đâu phải là giải pháp!
Cho nên, người dân lại lãnh đủ. Từ chuyện phải bỏ thêm nhiều tiền, đến chuyện phải chịu đựng một hiện trạng giao thông tắc nghẽn ô nhiễm và không an toàn. Phạt, phạt nữa, phạt mãi, phạt nhiều, để làm gì, thưa Chính phủ?
Lê Cao

Nguồn: Phạt, phạt nữa, phạt mãi ... để làm gì, thưa Chính phủ?